Từ loại nhuyễn thể quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, nay nó đang dần trở thành “con vật nuôi chủ lực” giúp nhiều hộ nông dân đổi đời, vươn lên khá giả chỉ sau vài vụ. Đặc biệt, với đặc tính dễ nuôi, thời gian gieo giống đến thu hoạch không quá dài đã giúp loài vật này càng được chú ý.
Sò huyết là loại nhuyễn thể hai mảnh, sinh sống chủ yếu ở vùng trung triều ven biển và các đầm phá, ở độ sâu phổ biến khoảng 1-2m so với mặt nước.
Khác với nhiều loại sò khác, sò huyết có phần thịt dày, màu đỏ sẫm đặc trưng do chứa hàm lượng sắt cao trong máu. Chính đặc điểm này khiến sò huyết không chỉ được ưa chuộng trong ẩm thực mà còn được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng.
Theo các tài liệu dinh dưỡng, sò huyết giàu protein, sắt, kẽm, vitamin nhóm B và nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể, đặc biệt tốt cho người thiếu máu, phụ nữ và người lao động nặng. Nhờ đó, sò huyết luôn nằm trong nhóm hải sản có sức tiêu thụ mạnh, từ chợ truyền thống đến nhà hàng, quán ăn cao cấp, giá bán tương đối ổn định quanh năm.
Sò huyết phân bố rộng khắp khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, kéo dài từ bờ đông châu Phi đến Úc và Nhật Bản. Tại Việt Nam, sò huyết sinh trưởng tốt và khá dễ nuôi, xuất hiện nhiều ở vùng ven biển. Sau khi được nhiều hộ nuôi thấy được tiềm lực kinh tế nên đã bắt đầu học hỏi, nhân rộng mô hình nuôi trồng, canh tác.

Chính nhu cầu thị trường lớn đã mở ra cơ hội làm giàu cho nông dân ở nhiều địa phương có lợi thế bãi bồi ven biển bằng nghề nuôi sò huyết.
Trước đây, những khu vực này chủ yếu được khai thác tự nhiên với sản lượng thấp, thu nhập bấp bênh. Tuy nhiên, khi người dân bắt đầu chủ động cải tạo bãi, thả giống và nuôi sò huyết theo quy mô hàng hóa, hiệu quả kinh tế đã tăng lên rõ rệt.
Theo kinh nghiệm của nhiều hộ nuôi lâu năm, ưu điểm lớn nhất của sò huyết là dễ nuôi, ít tốn công chăm sóc và đặc biệt không cần đầu tư chi phí thức ăn. Sò huyết sinh trưởng nhờ mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du sẵn có trong môi trường nước. Do đó, để nuôi con vật suốt ngày ngụp lặn dưới bùn, người nuôi gần như chỉ cần quản lý tốt nguồn nước và nền đáy. So với các mô hình nuôi tôm thâm canh hay cá lồng bè đòi hỏi chi phí lớn, nuôi sò huyết giúp giảm đáng kể gánh nặng vốn đầu tư ban đầu.

Sò huyết ưa môi trường đáy bùn, bột mịn, độ mặn thấp, nhiệt độ ổn định từ 20-30 độ C và nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào như mùn hữu cơ, tảo, thực vật phù du.
Chi phí chính của một vụ nuôi sò huyết tập trung vào khâu mua giống và cải tạo mặt bãi. Nếu chọn được nguồn giống khỏe, đồng đều và thả nuôi đúng thời vụ, tỷ lệ sống của sò khá cao.
Trong suốt quá trình nuôi kéo dài từ 8-12 tháng, người dân không phải túc trực thường xuyên, chỉ cần theo dõi độ mặn, mực nước và kịp thời xử lý khi môi trường biến động mạnh, nhất là vào mùa mưa.
Nhiều nông dân cho biết, nuôi sò huyết không chỉ phù hợp với những hộ có diện tích lớn mà ngay cả những gia đình quy mô nhỏ cũng có thể tham gia. Nhờ tận dụng quỹ đất sẵn có và công lao động nhàn rỗi, mô hình này tạo điều kiện để người dân vừa sản xuất, vừa giảm rủi ro tài chính.
Việc thu hoạch sò huyết khá đơn giản, chủ yếu dùng cào tay hoặc máy chuyên dụng, không phát sinh nhiều chi phí. Với điều kiện thuận lợi, mỗi hecta có thể cho sản lượng lớn, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thu về cao gấp nhiều lần vốn bỏ ra. Không ít hộ dân khẳng định, nếu trúng mùa và bán đúng thời điểm, mức lãi có thể đạt gấp ba đến bốn lần so với chi phí đầu tư ban đầu.
Giá sò huyết trên thị trường thường duy trì ở mức khá, đặc biệt tăng mạnh vào những dịp lễ, Tết khi nhu cầu tiêu thụ hải sản tăng cao. Hiện giá sò huyết dao động từ 100.000-300.000 đồng, tùy kích cỡ. Trung bình nuôi 1 hecta sò huyết, mật độ thả giống sò huyết phù hợp khoảng 100-150 con thu về khoảng 200-300 triệu đồng/vụ.

Tới mùa thu hoạch, các hộ nuôi lại mò mẫm dưới bùn để bắt sò huyết.
Người nuôi lâu năm cho biết cho biết sò huyết là đối tượng nuôi tương đối dễ thích nghi, ít dịch bệnh, tuy nhiên khó khăn lớn nhất hiện nay nằm ở nguồn giống. Do chưa chủ động được sinh sản nhân tạo, con giống vẫn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, dẫn đến tình trạng khan hiếm vào một số thời điểm.
Trong bối cảnh môi trường nước tại các kênh rạch tự nhiên có dấu hiệu ô nhiễm, nhiều hộ đã chuyển sang nuôi sò huyết trong ao nuôi cá, tôm theo hình thức quảng canh. Mô hình này cho phép kiểm soát tốt hơn nguồn nước, hạn chế hao hụt và vẫn đảm bảo năng suất tương đương so với nuôi ngoài bãi bồi.
Tại nhiều địa phương, vùng nuôi sò đã hình thành liên kết sản xuất và tiêu thụ, trong đó doanh nghiệp đứng ra bao tiêu sản phẩm hoặc ký hợp đồng thu mua theo vụ. Điều này giúp người dân yên tâm đầu tư, tránh tình trạng “được mùa mất giá”.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, nuôi sò huyết còn được đánh giá là mô hình thân thiện với môi trường. Do không sử dụng thức ăn công nghiệp và hóa chất, sò huyết góp phần cải thiện chất lượng nền đáy và nguồn nước, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững. Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu được quy hoạch hợp lý, mô hình này không chỉ giúp người dân làm giàu mà còn bảo vệ hệ sinh thái vùng ven biển.
Tất nhiên, để đạt được hiệu quả cao, người nuôi vẫn cần chú trọng khâu chọn giống và môi trường nuôi. Nguồn nước phải đảm bảo sạch, độ mặn ổn định, tránh xa khu vực xả thải công nghiệp và sinh hoạt. Việc thả nuôi với mật độ vừa phải, tuân thủ đúng kỹ thuật sẽ giúp sò sinh trưởng tốt, hạn chế hao hụt.
Sò huyết nay đã trở thành vật nuôi chủ lực, mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân. Những bãi bồi từng bị bỏ quên nay được khai thác hiệu quả, mang lại cuộc sống khấm khá hơn cho nông dân vùng ven biển.