Ngựa gỗ - linh tượng trấn giữ chiều sâu tâm thức Thăng Long

Bài, ảnh Chu Minh Khôi
Chia sẻ

Trong dòng chảy thâm trầm của di sản Hà Nội, giữa những mái đình rêu phong, những cột chùa nâu trầm, có những linh tượng lặng lẽ nhưng uy nghi đứng bên những ban thờ - đó là Ông Ngựa. Ngựa gỗ trong gian thờ, từ lâu đã trở thành hình dáng được người dân Thăng Long gửi gắm bao tầng tín ngưỡng và ký ức.

Tượng ngựa bằng gỗ ở Hà Nội

Nằm trên phố Hàng Buồm, đền Bạch Mã được xem là ngôi đền linh thiêng và lâu đời nhất trong Tứ trấn Thăng Long. Theo truyền thuyết, khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long năm 1010, việc xây thành liên tục gặp sụt lở. Nhà vua đã cầu thần Long Đỗ - vị thần bảo hộ thành Đại La. Đêm ấy, thần hiển linh, chỉ dẫn vua theo dấu chân một con bạch mã để dựng tường thành. Quả nhiên, thành Thăng Long không bị lún sụt nữa. Nhà vua cảm kích trước sự phò trợ của thần Long Đỗ, bèn ban sắc phong thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương. Triều đình cho tu sửa đền thờ thần Long Đỗ, lại cho tạc một bức tượng ngựa trắng để thờ trong đền. Đền thờ thần Long Đỗ cũng có tên là Bạch Mã từ bấy giờ.

Qua nhiều thế kỷ, đến nay trong đền hiện lưu giữ một pho tượng ngựa trắng bằng gỗ lớn biểu tượng của thần Bạch Mã. Pho tượng được xem là linh vật quan trọng nhất của đền và thường được rước trong các dịp lễ hội lớn.

Ngựa gỗ - linh tượng trấn giữ chiều sâu tâm thức Thăng Long - 1

Ngựa gỗ ở chùa Cát Quế, Hà Nội.

Trong các ngôi chùa cổ ở Hà Nội, hiện diện rất phổ biến những đôi ngựa bạch - ngựa hồng tạo tác bằng gỗ để biểu hiện cho quan hệ âm - dương. Tại tòa Tam bảo chùa Thầy (Hà Nội), tượng ngựa đỏ bày ở gian phải tòa Thượng điện và tượng ngựa trắng bày ở một gian nhỏ tại Tiền Đường có cửa trang trí con tiện để đứng ngoài vẫn thấy bên trong.

Hai tượng ngựa được tạo tác với hình dáng và kích thước khá giống nhau: Cao 2,1m; dài 1,47m; ngực rộng 0,94m; đều có niên đại thế kỷ XIX. Ngựa được tạc trong tư thế hai chân trước đứng thẳng, hai chân sau hơi nhún, thân hình cao thon, tai hướng về phía trước, mặt dẹt, mắt hình ô trám, lưng thắng yên và có vải phủ kín lưng trên có thêu hoa, lá, rồng…, cổ đeo một vòng chuông. Xung quanh đầu và miệng là các tua, gù màu vàng buông dài xuống ngực. Toàn bộ ngựa được đặt trên xe bốn bánh có thể di chuyển được.

Người Việt tin rằng, giữa trời - đất, các Đức Thánh vẫn dùng ngựa để đi chầu, đi hành đạo, đi giữ yên bờ cõi vô hình. Bởi thế, trong bất cứ am, miếu, đình chùa nào, dân gian đều đặt ngựa thờ như một lời kính hiến, một sự tri ân đối với các vị thần đã dựng xây và bảo vệ đất nước qua bao biến thiên sông núi. “Âm dương nhất lý”, người xưa quan niệm vậy: Khi sống các ngài cưỡi ngựa đi dẹp loạn, thì khi khuất núi cũng vẫn cần ngựa để đi lại giữa các cõi.

Trong các ngôi đình xưa, ngựa gỗ thờ luôn được gọi bằng hai tiếng kính trọng “Ông Ngựa”, được tạc bằng gỗ mít, sơn son theo lối cổ truyền. Thân ngựa đứng trên bốn bánh xe gỗ, sẵn sàng được kéo đi trong những lễ rước tôn nghiêm của làng. Đầu ngựa khắc sắc sảo với đôi mắt sáng, bờm uốn lượn như gió quấn quanh sườn núi, thân mình rắn rỏi, bốn chân đứng vững chãi. Mỗi đường nét được chạm trổ đều không chỉ là thẩm mỹ mà còn là hơi thở linh hồn, như thể chỉ cần tiếng trống chiêng vang lên là ngựa có thể cất bước.

Ngựa gỗ - linh tượng trấn giữ chiều sâu tâm thức Thăng Long - 2

Mã đầu Quán Âm ở chùa Cát Quế, Hà Nội.

Hai màu ngựa được thờ phổ biến nhất là đỏ và trắng, cũng là hai sắc linh tượng mang tính ước lệ. Mỗi màu đi liền với một vị thần, một cõi tinh linh khác nhau trong thế giới quan của người Việt. Sắc đỏ rực rỡ như lửa của dũng tướng; sắc trắng thanh sạch như mây của những vị thánh tu hành. Những nghệ nhân làm ngựa thờ hiểu rất rõ: Linh vật không chỉ là một pho tượng. Đó là sự kết hợp của tay nghề và tín ngưỡng. Ngựa gỗ được dựng bằng trục chính là chân đục đặc để giữ sự vững chãi, các bộ phận khác ghép nối bằng keo gỗ, mộng khớp chính xác đến từng li ti để không cong vênh theo năm tháng. Trên lớp sơn thếp vàng, thếp bạc, dưới ánh đèn dầu, ngựa như đang hít thở, như đang lắng nghe tiếng chuông chiều vọng đến.

Trong dòng thời gian miên man của văn hóa Việt, Ông Ngựa không chỉ là linh vật thờ cúng. Đó là biểu tượng của sức mạnh, của sự trung thành, của tinh thần uy dũng mà vẫn hài hòa, mềm mại như chính tâm tính người Việt. Trong tiếng gió luồn qua mái ngói, trong tiếng chuông chùa trầm đục, trong làn khói nhang khẽ bay, bóng Ông Ngựa vẫn bền bỉ trấn giữ một phần hồn thiêng của đất kinh kỳ.

Hình ảnh ngựa trong tranh điêu khắc gỗ

Trong không gian trầm mặc của những ngôi chùa, đền cổ Hà Nội, tiếng thời gian như còn vương trên vách gỗ, trên bức cốn, trên từng nan cửa võng. Ở đó, thấp thoáng một hình bóng quen mà lạ: Con ngựa. Không phải ngựa xé gió trên đồng thảo nguyên, mà là ngựa được người xưa gửi gắm linh hồn, nâng lên đài thiêng của tín ngưỡng và nghệ thuật. Chỉ cần ngẩng đầu nhìn lên những cấu kiện gỗ đã mòn theo năm tháng, ta dễ dàng bắt gặp những dáng ngựa đang phi, đang lồng, đang uống nước, đang ẩn mình trong mây như một dòng chảy sống động giữa miền tĩnh tại của cửa thiền.

Trên hệ thống trang trí đình, chùa, nghệ thuật chạm khắc dân gian với những chạm nổi, bong kênh, đục thủng đã làm sống dậy cả một “vũ trụ ngựa”: Ngựa phi nước đại vượt sóng mây; ngựa rong ruổi theo quan đội mũ cánh chuồn; ngựa lồng; ngựa gặm cỏ; ngựa uống nước; hay cảnh khỉ cưỡi ngựa tinh nghịch. Ở chùa Tây Mỗ (Hà Nội), hình khỉ cưỡi ngựa lại mang sắc thái dí dỏm của triết lý dân gian. Hình ảnh khỉ cưỡi ngựa trên vách chùa Tây Mỗ là một chi tiết nghệ thuật độc đáo thuộc thế kỷ 19, thể hiện sự phong phú trong trang trí điêu khắc kiến trúc Phật giáo, tạo nên nét đặc sắc.

Ngựa gỗ - linh tượng trấn giữ chiều sâu tâm thức Thăng Long - 3

Long mã trên tượng khuyến thiện ở chùa Thầy, Hà Nội.

Khi nghệ thuật thời Mạc lên đến độ rực rỡ, con ngựa bước sang ngưỡng cửa linh hóa để trở thành Long Mã: Đầu rồng, thân ngựa, vẩy cá chép, chân hươu, đuôi bò. Long Mã gắn với huyền thoại hà đồ, là linh vật từ nước hiện thân lên, biểu trưng cho trí tuệ thánh nhân và sự hài hòa âm dương.

Ở chùa Thầy (Hà Nội), long mã được chạm trên cửa võng điện Phật, trên câu đối, trên áo tượng Khuyến Thiện. Đặc biệt, cửa võng thế kỷ XIX tại đây còn thể hiện long mã với móng guốc đúng kiểu ngựa – một nét hiếm gặp, cho thấy sự pha trộn tinh vi giữa tả thực và linh hóa. Chùa Chi Đông ( Mê Linh - Hà Nội)…cũng lưu giữ hình long mã mềm mại như đang trườn mình trong nước, rồi vụt hóa thành ngựa để phi vào không trung.

Từ chùa, đình, miếu đến tranh khắc, hình tượng ngựa đã trở thành lớp ngôn ngữ nghệ thuật giàu tầng bậc trong văn hóa Việt. Nó vừa mang dáng dấp thực của loài vật quen thuộc với chiến chinh, vừa chuyển hóa thành linh thú chở kinh, thanh long mã gắn với triết lý âm dương. Sự hiện diện của ngựa không chỉ là trang trí; đó là tiếng gọi của một niềm tin cổ xưa: Rằng giữa cõi phàm trần vẫn luôn có linh khí, có những bước chân mạnh mẽ dẫn con người đi tới điều thiện, điều lành. Và vì thế, qua bao thế kỷ, tiếng vó ngựa huyền thoại ấy vẫn âm thầm ngân vang dưới những mái đình, mái chùa rêu phong của đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.

Chia sẻ

Bài, ảnh Chu Minh Khôi

Tin cùng chuyên mục

Nhà gọn - Tết nhàn

Nhà gọn - Tết nhàn

Mỗi năm, cứ gần Tết là nhiều gia đình lại bước vào “chiến dịch” dọn nhà. Nhà cửa được lau chùi sạch sẽ, đồ đạc được sắp xếp lại ngay ngắn, nhưng điều lạ là cảm giác mệt mỏi của người phụ nữ dường như không giảm đi. Trái lại, rất nhiều người chia sẻ rằng Tết chưa đến mà đã thấy đuối sức. Dọn thì nhiều, nhưng nhà chỉ gọn được một thời gian ngắn. Sau Tết...

Giữ Tết là giữ nguồn cội

Giữ Tết là giữ nguồn cội

Tết Nguyên đán mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng, là ngày lễ truyền thống lớn nhất và lâu đời nhất của dân tộc ta. Tết còn góp phần nhắc nhở mỗi người về nguồn cội. Để những giá trị văn hóa truyền thống liên tục được trao truyền, không bị phai nhạt với thế hệ sau thì cần chú trọng xây dựng, phát huy văn hóa gia đình.

Trắc nghiệm: Ở công sở, bạn đang “chạy nhanh” hay “chạy đúng hướng”?

Trắc nghiệm: Ở công sở, bạn đang “chạy nhanh” hay “chạy đúng hướng”?

Có những người lúc nào cũng bận rộn, nhưng mãi vẫn đứng yên. Có người không quá tất bật, nhưng lại đi rất xa. Trong công việc, “phi nước đại” không phải là làm nhiều nhất mà là biết dùng sức đúng lúc, đúng chỗ. Hãy làm bài trắc nghiệm dưới đây để xem bạn đang chỉ chạy nhanh hay đang chạy đúng hướng?